7:34 CH
Chủ Nhật
28
Tháng Mười Một
2021

KỶ NIỆM ĐẦU XUÂN - TRẦM MẶC HOA HUYỀN

10 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 16298)

 bennhau-content Ánh sáng lập lòe của đống lửa được chúng tôi nhóm lên nơi gốc cây bằng lăng mục để sưởi ấm và đuổi muỗi rừng đêm. Trời cuối đông giá lạnh. Tiếng ngáy đều và nặng của những thằng bạn cùng chung số mệnh như tôi sau một ngày mệt nhọc vất vả càn rừng băng suối đốn củi, đốt than hòa cùng tiếng tí tách của than củi, tiếng dế rừng rả rích kêu sương tạo thành một giai điệu trầm buồn thê lương ảm đạm. Cơn gió thoảng qua thổi bung những đóm lửa tỏa ra. Sáng rực. Rồi vụt tắt, như những đóm hỏa châu tỏa sáng trên trời quê hương trong những tháng năm dài chiến tranh thảm khốc!

 Sáu anh em chúng tôi có chung một thời làm lính Quốc gia oai hùng, khoát áo hoa rừng, hiên ngang xông pha trận mạc. Giờ đây, nằm chèo queo nơi miếu Ông Hổ giữa rừng Xã Hoàng, thuộc xã Long An, huyện Long Thành, Đồng Nai cách truông Bàu Mây hơn bảy tám cây số, khu rừng này trước kia là căn cứ của VC. Chúng tôi bỗng trở thành những tiều phu bất đắc dĩ: Đốn củi, đốt than kiếm đồng tiền mọn về phụ vợ nuôi con!

 Người ta đồn miếu Ông Hổ này linh thiêng lắm. Trên bàn thờ giữa miếu có tấm bia bằng đá khắc hình con cọp ba chân, nhe răng trợn mắt như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện. Ngày xưa nơi đây có một con cọp bị mắc bẫy nơi chân trái trước, nó tự cắn đứt bỏ chân để chạy thoát. Tuy còn ba chân nhưng nó rất hung hăng và dữ tợn lắm. Nó ăn thịt người nhiều quá nên biến thành tinh. Sau nhờ một Thượng sĩ người Pháp dẫn lính đến kích ba ngày đêm mới bắn chết. Từ đó về sau, cứ đêm đêm nó hiện về gầm thét vang động cả khu rừng. Những người đi săn, làm rừng hay dân xe be nghe thấy sợ quá, nên lập miếu thờ cho tới bây giờ.

 Những đêm cuối đông, khu rừng già tẩm đầy hơi sương và gió từ nơi xa mang hăng hắc mùi bom đạn của cuộc chiến ngày nào thổi về lành lạnh. Rợn người. Cành lá xạc xào như lời oán than của những oan hồn chiến cuộc! Tôi ngồi trước thềm miếu, nhìn vầng trăng non e ấp núp sau lớp sương mờ đục, trải ánh vàng trên các đọt chuối rừng ven suối như tấn lụa vàng mỏng manh phất phơ trước gió. Tiếng muỗi rừng vo ve như tiếng sáo diều trên cánh đồng quê hương tuổi thơ. Chiếc lá cuối mùa rơi xuống sân miếu, bị gió thổi bung lên chao đảo mấy vòng rồi nằm im lìm trên thảm cỏ, chắc nó cũng mang tâm trạng nuối tiếc ngày xanh như tôi! Khói thuốc rê làm mắt tôi cay! Ngùi ngùi nhớ lại thuở ngọc ngà thơ mộng dấu yêu. Ôi, nó êm đềm. Nó diễm tuyệt làm sao! Những ngày tháng cuối đông như đêm nay, Búp đã cho tôi nhiều kỷ niệm, kỷ niệm đầu đời không thể nào quên. Không biết bây giờ nàng trôi giạt phương nào?!...

 Hồi đó, tôi và Búp ở cùng xóm, nhà tôi cách nhà nàng một con mương nhỏ. Hai đứa bằng tuổi nhau, hoc chung lớp, chơi đùa khắn khít bên nhau. Thường gọi nhau bằng mầy tao. Nhưng mẹ Búp bảo nàng phải gọi tôi bằng anh vì tôi lớn hơn nàng bốn tháng. Nàng lớn con, tướng tá giống như con trai. Chưa đầy mười ba tuổi mà đã trổ mã trông xinh đẹp như gái mới dậy thì. Mày lá liễu rậm. Mắt đen. Mặt má bầu, nước da bánh mật. Miệng cá chim nhỏ xíu. Cười chúm chím trông rất có duyên. Búp hiền, dễ thương và ưa khóc. Mỗi lần Búp khóc mẹ nàng thường la rầy: "Cái con nhỏ này kỳ ghê, nước mắt lúc nào cũng chực sẵn trên mi, hở ra là khóc, sau này sẽ khổ cho mà coi!".

 Đình làng tôi gọi là Đình Mỹ Khoan nay thuộc xã Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch hàng năm có tổ chức lễ Kỳ yên vào hai ngày mười bốn và rằm tháng mười một. Đúng ra lễ này các làng khác gọi là lễ Cầu an. Riêng chỉ có làng tôi gọi là Kỳ yên. Vì Cầu là tên của ông Cả Hai ông này tên là Phạm văn Cầu. Còn An là tên của vị quan Phủ Hàm tên Lê văn An cùng ở trong làng. Nên dân làng kỵ nể không dám gọi tên sợ xúc phạm, như dân chúng sống dưới thời phong kiến không dám gọi trên vua chúa. Trong đình chia ra hai phần: Phía trước thờ Thần Hoàng và các vị quan chức ngày xưa có công khai khẩn và trấn giữ làng gọi là Tiền Hiền. Phía sau thờ các vị bô lão chức sắc có công gìn giữ trùng tu đình đã qua đời gọi là Hậu Hiền. Trước đình là cái sân rộng có tấm bia bằng xi măng lớn, tạc hình con cọp hướng mặt ngắm rừng. Bên phải là miếu thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, bên trái dưới gốc cây gõ mật là bàn thờ ông Thần Nông. Tục truyền ngày xửa ngày xưa, dân chúng chưa biết làm nhà hai mái xuôi xuống, ông Thần Nông thấy dân chúng ở trong những chòi lá một mái bằng ngang. Trời mưa nước ứ đọng, dột nát thảm thương nhưng không nghĩ ra được cách nào lợp nhà cho khỏi bị đọng nước nên mới hỏi bà Cửu Thiên Huyền Nữ. Bà không trả lời mà một tay đứng chống nạnh, tay kia vuốt theo đường gãy của cánh tay và cùi chỏ như hai mái nhà. Từ đó về sau dân chúng mới cách biết lợp nhà xuôi theo hai mái. Ông Thần Nông thua trí thông minh của đàn bà, tức quá, tự ái nổi lên nên thề rằng suốt đời suốt kiếp không thèm ở trong nhà mà bà Cửu Thiên Huyền Nữ chỉ bày. Vì thế cho nên dân làng mới thờ ông ở ngoài trời cho tới bây giờ.

 Bên hông đình có cái mõ bằng cây to gần một ôm, dài cỡ một thước tây, đục rỗng ruột, sơn đỏ lòm. Cái mõ này dùng để đánh tụ tập dân làng mỗi khi có lễ hội. Ba tôi bảo cái mõ ấy linh lắm, nếu ai không phải là chức sắc trong Hội đình và chưa tới ngày lễ lộc mà đánh mõ thì ông Thần đình về vặn họng chết tươi. Cho nên, hễ đêm nào dân làng nghe thấy tiếng mõ đình đánh lên là biết có mấy ông trong rừng về và người nào đánh mõ không sớm thì muộn cũng bị lính Quốc Gia bắn chết ngủm cù đèo. Làng tôi có tám người đi trong rừng làm du kích, lần lượt về đánh mõ đình đều chết sạch sành sanh, không còn một móng!

 Vào ngày lễ Kỳ yên, mặc dù trời lạnh, sương nhiều nhưng bọn trẻ trong làng thường thức suốt đêm ở trên đình, nào là theo các cô bác lớn học chưng bông trái, hay coi nấu xôi, gánh nước, bửa củi v.v... Hoặc chơi các trò chơi dân gian như nhảy dây, bịt mắt bắt dê, bỏ khăn... Riêng bọn trẻ xóm tôi thì chơi trò chơi trốn tìm và chỉ có mỗi mình tôi là bị bắt liên tục vì hồi nhỏ tôi thường hay bệnh hoạn, èo uột khó nuôi. Hễ mỗi lần thức khuya dậy sớm hoặc trái gió trở trời thì ba mẹ bắt đè tôi xuống xức dầu Nhị Thiên đường hay dầu gió Khuynh diệp Bác sĩ Tín khắp mình mẩy, nên dù cho tôi có trốn ở hốc kẹt nào đi chăng nữa, bọn chúng cũng vẫn tìm ra dễ dàng vì ngửi thấy mùi dầu!

 Tôi bị thua nên phải đi tìm những đứa chạy trốn. Khi đến dưới gốc cây cám, bỗng nghe có tiếng khóc thút thít. Tôi vội chạy đến thấy Búp ngồi chù ụ một đống, bụm mặt khóc. Hỏi tại sao? Nàng chỉ xuống đáy quần nói bị vấp té rách một lỗ lớn lắm, ra ngoài sợ tụi nó thấy cười chọc quê còn về nhà sợ bị má đánh đòn. Rồi, rất tự nhiên, Búp nắm lấy tay tôi ghị sát vào háng mình tuồng như để trưng bày vật chứng, cho tôi thấy rằng nàng không hề nói dối. Con gái quê tôi thời bấy giờ tuy đã lớn chồng ngồng rồi nhưng ít có đứa nào biết mặc quần lót lắm. Khi tay vừa chạm vào chỗ rách tôi cảm giác như có cái gì đó hơi nham nhám ở phần trên. Bỗng dưng Búp đứng dậy, ghị tôi sát vào nàng, tay choàng qua sau lưng tôi. Siết thật mạnh và âu yếm hôn lên môi tôi. Tôi tê cứng cả người, mê man trong khoái cảm. Thân thể mình nóng rần lên. Có lẽ, được truyền tải bởi một nhiệt lượng cao độ phát ra từ chỗ rách đó! Và...sau cùng "của quí mới ra ràng" của tôi phủ kín mít chỗ rách dưới đáy quần nàng...

 Dưới ánh trăng lờ mờ sương phủ, rừng cây hơn mẫu tây xung quanh đình bỗng nhiên trở nên âm u, cô tịch đến rợn người... Tôi nghe văng vẳng như có tiếng ai đó réo gọi tên chúng tôi. Tôi vội cởi áo mình choàng qua mông nàng và cột chặt hai tay áo vào nhau nơi eo ếch cho khỏi rớt. Búp lượn lách người qua những kẻ lá lùm cây, băng đường tắt chạy về nhà như bóng một nữ hiệp trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung băng mình giữa rừng khuya tuyết giá lạnh lùng!

Búp chạy về nhà thay quần rồi đem áo lên trả lại cho tôi. Nè, mặc vô đi kẻo bị cảm lạnh, ba má trên đó biết được chửi tôi chết. Tôi mặc áo vào, liếc nhìn chiếc quần Búp mới thay mỉm cười. Búp nhéo vào bắp vế non tôi đau điếng. Bộ lạ lắm sao cười chọc quê người ta hoài hà! Rồi hai đứa cùng nhau ngồi bên hông đình chờ gà gáy canh tư coi lễ Thỉnh Sắc.

 Lễ Thỉnh Sắc là lễ dùng kiệu rồng, sơn son thiếp vàng, bốn người khiêng, có tàng lộng che chở, trống kèn, cờ phướng rình rang. Nhóm người đi Thỉnh Sắc gồm có Chánh Tế, Bồi Tế (Chánh Tế là người được Ban Hội đình đề cử ra đứng làm chủ lễ tế thần trong một năm, còn Bồi Tế là vị kế thừa sẽ lên làm Chánh Tế trong năm tới. Cứ lệ hàng năm làng chọn thêm một vị Bồi Tế để điền khuyết cho năm sau) cùng với một số thanh niên ăn mặc lễ phục cung đình gọi là "Học trò lễ", đi rước tờ Chiếu chỉ của vua phong chức sắc cho vị quan nào đó về trấn nhậm cai quản địa phận làng xã (giống như Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm chức vụ sau này). Được một bô lão có uy tín cất giữ và dân trong làng tôn bái thờ phượng để nhớ công lao của tiền nhân. Nên có câu "Sanh vi tướng tử vi thần" là như vậy. 

 Không biết vị thần đình làng tôi làm quan cấp bậc chức vụ lớn cỡ nào mà dân làng sùng bái đến như thế. Còn chúng tôi đi lính Quốc Gia cũng làm quan như ai, những "Chiếu chỉ" bổ nhiệm, thuyên chuyển từ đơn vị này qua đơn vị khác nhiều như tờ giấy lộn lưng, có đôi khi cầm nó trên tay mà ứa nước mắt nữa là đàng khác! Sau ngày mất nước, những tờ "Chiếu chỉ" đó bị phe bên kia cho là "bằng chứng tội ác" và căn cứ vào đó để áp đặt những hình phạt tù đày thảm khốc, chớ đừng nói chi đến trọng vọng tôn thờ!!!

 Những năm sau đó quê tôi giặc giã nổi lên rần trời. Xóm làng không còn bình yên như trước nữa. Những đêm đông lạnh lẽo, thức trắng đêm đùa giỡn trước sân đình. Những ngày mùa với đoàn người gánh lúa về rộn ràng thôn xóm. Những cánh diều giấy tung bay trong buổi hoàng hôn dịu mát của những ngày tháng giêng hai trên cánh đồng thơm mùi rạ mới gặt. Tiếng tù và hòa cùng tiếng nghé ngọ của bầy trâu đang rảo bước ra đồng trong buổi bình minh... Tất cả đã vùi sâu vào làn dĩ vãng...đã lùi xa...thật xa...Tiếng võng đưa kẻo kẹt, tiếng mẹ hiền ru con à ơi trong những buổi trưa hè đã thay bằng tiếng bom ầm đạn xé. Mùi hương lúa mới được thay bằng mùi máu thịt dân lành. Hàng cau gầy guộc, cây vú sữa trơ cành, lũy tre làng gục đầu nức nở thảm thương!...

 Ba tôi bỏ vườn ruộng dẫn vợ con ra ngoài Thị trấn Long Thành hùn vốn mở trại mộc với bác tôi. Còn tôi vẫn tiếp tục lên tỉnh học vì ở Quận chỉ có bậc Trung học Đệ Nhất cấp. Từ đó tôi xa hẳn làng quê, xa nhơi chôn nhau cắt rốn và... xa luôn cả Búp! Xa những ngày tháng sống bên nhau với biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn thời thơ ấu. Nhất là ngày lễ Cầu An dưới ánh trăng mờ ảo nơi gốc cây cám trong khu rừng đình, tuy rằng mình chưa lần thề thốt yêu đương nhưng chúng mình đã là "của nhau" rồi phải không Búp! Giờ xa nhau thử hỏi ai mà không buồn, không nhớ! Chiến tranh! Tôi thù ghét chiến tranh! Tôi căm thù những kẻ gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt trên quê hương tôi! Tôi căm thù! Tôi căm thù đến tận xương tủy!

 Rồi tôi vào lính. Rồi Búp cũng lầm lũi theo chồng, cam phận vợ hiền. Đến nay chưa lần gặp mặt! Thời gian như cuộc chạy đua nước rút, càng lúc càng gần tới cái đích cuối cùng của đời người, nó đẩy lùi vào quá khứ những kỷ niệm êm đềm càng lúc càng trôi xa... Biền biệt!...

 Sau khi thanh toán tiền nong với chủ vựa than xong và đây cũng là đợt bán than cuối cùng trong năm để anh em chúng tôi chia tay nhau trở về nhà cùng vợ con chuẩn bị đón Xuân, vui Tết. Anh Hai L‎‎ợi có ý kiến "Suốt mấy tháng trời sống trong rừng ăn măng le, uống nước suối, giờ ra phố mình tìm quán nào đó nhậu lai rai vài xị rồi về nhà cũng không muộn. Chịu không tụi bây?". Tất cả gật đầu khen phải. Chúng tôi vào quán Phở Mười Tây ở đầu cầu Ngang thuộc xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, kêu mỗi người một tô phở ăn cho vững bụng, dĩa bò xào củ hành và lít rượu ngâm chuối hột uống vừa thơm ngon vừa trị đau lưng. Thấy có người bán vé số dạo đang đi lại ngoài cửa quán, anh Sáu Khánh cao hứng nói: "Tụi mình hùn tiền mua mỗi đứa một cặp vé số đứa nào trúng phải chia đều cho anh em. Ôkê hông?". Cả bọn xướng lên "Ôkê!". Anh định đưa tay ngoắt người đàn bà mặc áo bà ba vải bô nâu, cụt chân trái, đội nón lá cũ mèm bung vành ngả màu xám bạc. Đu mình trên đôi nạng gỗ, tay cầm xấp vé số dày cộm dường như chưa bán được bao nhiêu, đang lăng xăng gọi mời người qua kẻ lại mua dùm. Thằng Tư Cải chận lại: "Mua vé số cầu may, nên phải chọn người bán lành tay khỏe chân, chớ tàn tật thế kia dễ dầu gì trúng cha nội". Tôi can: "Người ta tàn tật như vậy mà không đi ăn xin là tốt quá rồi, bán vé số khổ cực để nuôi thân biết đâu trời thương chiều nay cho bọn mình gặp hên thì sao? Thôi kêu lại mua giúp bà ấy đi kẻo tội nghiệp!"

 Đến vòng tua tôi uống. Vừa cầm ly rượu đưa lên môi thì người đàn bà bán vé số cũng vừa đến trước mặt. Mắt tôi bỗng hoa lên. Bàng hoàng khi nhìn thấy gương mặt ẩn khuất trong chiếc nón lá thâm đen kia dường như quen lắm. Tôi không còn tin tưởng vào thị giác của mình. Định thần nhìn kỹ. Rõ ràng là Búp! Trời ơi! Búp ngày nào của tôi bây giờ như vậy sao?! Ly rượu trên tay tôi bất thần rơi xuống đất vỡ tan. Những giọt rượu đắng cay văng tạt vào làm ướt mắt tôi. Hai tay tôi nắm chặt vai Búp gọi tên nàng qua ngấn lệ: "Búp!... Trời ơi!... Tại sao lại ra đến nông nổi này hả Búp?!". Nàng kéo vành nón lá thấp xuống, quay mặt hướng khác, dợm bước đi như cố che giấu dòng lệ đang rơi. Trả lời trong nghẹn ngào: "Không... Anh nhìn...lầm... người rồi!". Cả bàn tiệc không biết chuyện gì xảy ra, nhìn nhau ngơ ngác, dò hỏi. Tôi khẳng quyết: "Không! Tôi không lầm đâu! Dẫu có chết đi sống lại đến trăm ngàn lần đi chăng nữa thì hình bóng của Búp không bao giờ mờ phai trong tâm trí của tôi". Vừa nói tôi vừa nắm tay kéo ghế mời Búp ngồi. Hỏi đến tình cảnh gia đình nàng tôi mới biết:

 Khi tôi vào lính được hơn một năm thì chồng nàng bị mấy ông trong rừng về làng bắt cưỡng ép đi theo mấy ổng làm du kích. Sau ngày mất nước, hắn làm trong xã đội được hai năm thì bị cho ra rìa vì dốt nát và trong lúc chính quyền Miền Bắc đang giải thể thành phần "giải phóng miền nam". Chồng Búp về nhà rủ thêm một người bạn trước đây cũng là du kích vào rừng tìm những quả đại bác lép, cưa ra lấy khoanh bạch kim chịu lực kết hợp giữa thân và ngòi nổ của quả đạn. Bị sức ma sát của cưa sắt vào thân quả đạn nên quả pháo 125 ly phát nổ. Chồng nàng và người bạn đồng hành chết banh thây. Thịt xương lẫn lộn, không biết đầu của người nào và chân của người nào. Chỉ gom được một mớ thịt vụn về chia ra làm hai chôn mỗi người một lỗ. Chắc có lẽ ngày trước đi theo giải phóng quân mấy ổng gài "mìn" giết người nhiều quá nên bây giờ gặp quả báo chết chẳng toàn thây. Búp cùng đứa con gái đi theo vào rừng xắn măng, lượm củi gần đó cũng bị văng miễng nên nàng cụt chân trái, còn đứa con gái bị mù một mắt. Cả hai mẹ con đều đi bán vé số kiếm sống đắp đổi qua ngày!

 Nghe xong chuyện gia đình của Búp tôi thở dài ngao ngán cho thân phận con người sau cái ngày gọi là "giải phóng dân tộc". Chẳng những chúng tôi là những người chiến bại chịu khổ đau đày ải đã đành mà kể cả những kẻ mệnh danh là "chiến thắng" như chồng Búp cũng chẳng được hưởng thụ sung sướng gì hơn! Trong hoàn cảnh khốn khó này, chúng mình đều là những nạn nhân hướng chịu đau thương sau cuộc chiến thì có khác gì nhau. Thế nên, tôi đâu còn có gì để giúp được em hả Búp. Xin em hãy tha lỗi và đừng trách hờn tôi nghen Búp!

 Tôi gom hết tiền và mượn anh Sáu Khánh thêm hai chục ngàn nữa mới đủ mua hết xấp vé số của nàng. Búp cám ơn rồi đưa vé số cho tôi. Tôi không nhận và nhét tất cả tiền lẫn vé số vào trong túi đệm dính bụi đỏ lòm treo lơ lửng bên hông chân cụt. Nghẹn lời an ủi: "Búp cất đi! Tôi cầu mong biết đâu chiều nay những tấm vé số này sẽ làm thay đổi cuộc đời em". Búp cắp đôi nạng trong nách khập khểnh băng qua đường và khuất sâu dần vào ngõ hẻm bên kia...

 Búp ơi! Em biết không chỉ cần ba mươi giây thôi vị Nguyên thủ Quốc gia tuyên bố đầu hàng đã làm thay đổi vận mệnh của một đất nước, chôn vùi cả một dân tộc trong đau thương tủi nhục, huống hồ chi từ đây cho đến giờ xổ số, em còn cả bốn năm tiếng đồng hồ thì sự hy vọng thay đổi cuộc đời em đâu phải là không thể xảy ra phải không Búp?!

 Chắc giờ này các con tôi đang ra đầu ngõ chờ đón tôi mang tiền về cho chúng mua sắm quần áo mới để vui Xuân hưởng Tết cùng chúng bạn. Tôi đạp xe về nhà mà lòng rối như tơ vò vì không biết phải trả lời làm sao với vợ con, trong khi hai ba tháng trời vào rừng đốn củi bán than, nay vác mặt trở về chẳng những không có một xu dính túi mà còn mắc nợ thêm hai chục ngàn!

 Kansas City cuối Đông 2010

 TRẦM MẶC HOA HUYỀN


 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Tư 2011(Xem: 17234)
Vâng, tôi sẽ im lặng cho đến chết, để xa chàng mà vẫn mang theo đời mình trọn vẹn hình ảnh người yêu đầu đời năm xưa, để con tôi vẫn giữ nguyên trong lòng sự ngưỡng mộ suốt đời nó, khi luôn luôn nghĩ rằng có một người cha đã anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc.
03 Tháng Tư 2011(Xem: 17592)
Không biết mọi người ra sao, riêng tôi càng lớn tuổi càng thích lục lọi tìm những tấm ảnh cũ, mà mỗi tấm ảnh dù đẹp hay xấu, đã ố vàng với thời gian đều chất chứa ít nhiều kỷ niệm và nơi chốn.
03 Tháng Tư 2011(Xem: 17086)
Hôm nay, ngồi đọc và viết bài “Hương Vị Ngày Xưa”, món ăn hai miền của quê Mẹ mà lòng tôi bùi ngùi không tả. Đã mấy chục năm rồi, nơi đất nước phồn hoa này, đầy đủ các món ngon vật lạ.
03 Tháng Tư 2011(Xem: 17047)
Tôi nhớ giọt mồ hôi lấm tấm trên trán Mẹ, lom khom chụm lửa cho nồi bánh, dù Trời đang se lạnh. Tôi thương cái dịu dàng nhẫn nại của chị, ngồi nắn nót từng hũ dưa hành, dưa kiệu ngọt dịu trắng tinh
12 Tháng Ba 2011(Xem: 17837)
Vì vậy, sáng nay khi bà Tâm gọi sang để nhắc Duyên lát trưa qua chở bà đi chợ Việt Nam mua thức ăn, tiện thể xin quyển lịch “Tam Tông Miếu” (loại lịch bóc từng tờ) để bà coi ngày giờ, kiêng cữ cho cả năm, Duyên đã cười vang trong phone và nói với mẹ rằng: ”Má ơi, cái duyên “Tam Hạp”
08 Tháng Ba 2011(Xem: 16789)
Bố mẹ tôi người Bắc, di cư vào Nam lại sống trong khu xóm toàn người Bắc, nên tôi vẫn nguyên vẹn là con gái Bắc cả từ ăn nói đến cách sống ở đời.
03 Tháng Ba 2011(Xem: 16413)
Mùng Hai Tết năm đó, cô Hai Lựa dẫn thằng Cu Tí về quê ăn Tết. Bất ngờ hay tin ông Cả Mẹo vừa mới qua đời. Tin như sét đánh ngang mày, mẹ con cô vội vàng chạy u về nhà ông Cả. Vừa bước chân vào nhà thì nắp quan tài cũng vừa đóng đinh khóa chặt lại
03 Tháng Ba 2011(Xem: 17521)
Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất mà các nhà địa lý Tàu cho là có long mạch, mà long huyệt nằm ngay tại cái dốc cao vút ngay tại núi Châu Thới, vì vậy nhà triệu phú người Tàu tên Hỏa chôn nơi đây, cái tên dốc chú Hỏa có từ lúc đó
03 Tháng Ba 2011(Xem: 17137)
tôi rất vinh dự đã từng là cựu học sinh trường Tiểu Học NGUYỄN DU, Biên Hòa, có truyền thống tốt đẹp lâu đời và là một trong những ngôi trường đầu tiên của quê hương chúng ta, có lịch sử gắn bó với trường Trung Học NGÔ QUYỀN.
03 Tháng Ba 2011(Xem: 16300)
Bao nhiêu năm trôi qua, không còn được ăn Tết Việt Nam đúng nghĩa, mỗi độ Tết Nguyên đán , tôi vẫn ăn Tết bằng ký ức. Trong một khoảnh khắc sống bằng trí tưởng, ngày Tết vẫn còn nguyên vị ngọt ngào của bánh mứt, vẻ êm đềm của thời thơ dại.
10 Tháng Hai 2011(Xem: 15549)
Anh cố tìm giấc ngủ, mấy đêm trước anh còn đi vào giấc ngủ với bao nhiêu là hình ảnh vui tươi, tuyệt vời của ngày Tết Việt Nam. Vậy mà đêm nay những hình ảnh đẹp đẽ ấy biến đi đâu hết? Anh mong sao sáng mai thức dậy, đọc báo thấy tin chính quyền Việt Nam vừa… ra lệnh cấm không cho Việt Kiều về quê ăn Tết nữa. Chắc lòng anh sẽ…vui như Tết. Khỏi phải đi đâu cả.
10 Tháng Hai 2011(Xem: 16302)
Tôi đã xa Tổ Quốc nhiều năm. Thời gian không dài nhưng cũng đủ để nhớ, quên nhưng không thể xóa mùi hương có được từ những năm tháng cũ. Làm sao quên được mùi sữa Mẹ tinh khôi những ngày chưa lớn, mùi bùn trong đầm sen cuối làng thân thiết, mùi hương hoa cỏ lẫn trong sương sớm vào mùa Hạ ấm nồng
30 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 17799)
"Cô ấy đã cho tôi sự sống, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành cuối đời tôi để chăm sóc cô ấy" Anh dắt tay chị đi, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười toại nguyện, một mối tình đẹp như những áng mây chiều êm ả trôi lờ lững ở cuối lưng trời…
29 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 17266)
Sau một đêm khó ngủ, tôi nghĩ đến lời hứa con cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng,sẽ kể về câu chuyện có thật này. Một bí ẩn cuả Tâm Linh, đối với tôi thật vô cùng khó giải thích. Trân trọng mời quý vị cùng xem. Và gọi là chút tình với hương linh người tử sĩ.
08 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 15940)
Khi gió muà Đông Bắc phả hơi giá lạnh lùng vào mảnh vườn hiu hắt, đầu tháng Mười Hai của mỗi năm, là tôi lại chạnh nhớ đến những mùa Giáng Sinh ngày thơ ấu. Lạ một điều là trong đáy lòng tôi bỗng ấm lại,
03 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 17028)
Một câu chuyện gần gũi với đời sống hiện tại, dù biết phải “ an cư mới lạc nghiệp”, nhưng vẫn phải “liệu cơm gắp mắm” mới khỏi cảnh dở khóc dở cười khi mua một cái nhà vượt quá tầm tay.
11 Tháng Mười 2010(Xem: 16343)
Chị rất đau khổ, lặng lẽ trở về nhà. Chị nhất định không kể câu chuyện cho mẹ chồng biết, cũng như bất cứ ai.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 15511)
Tôi không có đập đìa gì hết. Tôi chỉ là một người trở về từ trại tù cải tạo với tài sản duy nhất và quý giá nhất là một cô vợ chung thủy và ba đứa con ngoan. Tôi gốc gác Biên Hòa, ngày xưa làm việc ở chi khu Long Toàn này, bị một cô nữ sinh tên là Bé Năm, nhà ở gần đó, trói cổ nên đã nhận nơi nầy làm quê hương!
04 Tháng Mười 2010(Xem: 16108)
Cái nhớ của tôi lập lại nhiều lần vào những thời điểm khác nhau. Nhớ Biên Hòa là điều có thật, hay nói cách khác là không giả dối chút nào.Không biết đêm nay tôi còn thao thức và trăn trở với nỗi nhớ Biên Hòa hay không?