8:15 SA
Thứ Sáu
3
Tháng Mười Hai
2021

THỦY QUÂN LỤC CHIẾN... BINH CHỦNG KIÊU HÙNG - MX Phạm Vũ Bằng

27 Tháng Ba 20154:47 CH(Xem: 15935)
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN.............Binh chủng KIÊU HÙNG


"Đầu xanh mũ đỏ thiên thần,
Sống hùng, sống mạnh, đếch cần sống lâu."
Phạm gia Cổn

  
Y Sĩ TQLC: Những Người Không Thích Sống Lâu.

***
MX Phạm Vũ Bằng
 
blank

 
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA “sống hùng sống mạnh nhưng không sống lâu”. Sống hùng sống mạnh thì ai cũng thích nhưng không sống lâu thì lại ít người muốn,  TQLC chỉ nhận những người tình nguyện cho nên binh chủng này gồm toàn những người không thích sống lâu, điều này cũng đúng đối với Quân Y TQLC.
 
blank

 
Trước khi viết bài này tôi xin cám ơn Y Sĩ Trung Tá TQLC Nguyễn Văn Thế, đã kể cho tôi biết về những niên trưởng Y Sĩ TQLC anh dũng hy sinh ngoài mặt trận. Tôi cũng chân thành cám ơn niên trưởng Y Sĩ Thiếu Tá TQLC Trần Xuân Dũng gần đây đã gửi cho tôi tập tài liệu về những niên trưởng Y Sĩ TQLC bị tữ thương và trọng thương ngoài mặt trận, tôi muốn nhấn mạnh là trọng thương còn bị thương lẻ tẻ thì không tính.(Tài liệu của BS Dũng sẽ được đăng trong ĐSST 2015)
 
Binh chủng TQLC được Tổng Thống Ngô Đình Diệm lý sắc lệnh  thành lập năm 1954. Dưới thời cụ Diệm TQLC là đứa con cưng, mỗi khi có lệnh hành quân thì Bộ Tổng Tham Mưu phải nghiên cứu  mặt trận kỹ và có kế hoạch rõ ràng cho nên TQLC đã gặt hái được nhiều chiến công lẫy lừng. Ngày 1/11/1963 các tướng phản loạn lật đổ và sát hại anh em Cụ Diệm, sau đó họ phá bỏ Ấp Chiến Lược, thả bọn Tù Binh Phiến Cộng, không lo việc nước mà chỉ tranh dành quyền lực với nhau làm cho Miền Nam mất an ninh, Việt Cộng nổi lên như kiến rừng, TQLC bắt đầu cuộc sống giang hồ “12 tháng anh đi” bốn vùng chiến thuật- hết Bến Hải lại đến Cà Mâu để đánh dẹp bọn chúng…
 
 Mỗi tiểu đoàn TQLC có một Trung Đội Quân Y gồm khoảng 20 Quân Y Tá được phân chia đến cấp đại đội, tại bộ chỉ huy tiểu đoàn có một trạm cấp cứu gồm khoảng 5 Quân Y Tá, Trung Đội Quân Y do một Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn chỉ huy trực tiếp. Người Y Sĩ này là một Bác Sĩ Y Khoa tốt nghiệp tại Đại Học Y Khoa Saigon hay Huế, ngoài trách nhiệm chỉ huy cấp cứu thương binh lúc tiểu đoàn đụng trận, người Y Sĩ Trưởng còn có trách nhiệm về Y Khoa Phòng Ngừa, Y Tế Công Cộng cho cả tiểu đoàn…
 
Trong cuộc chiến 1954-1975 Quân Y TQLC có số thương vong ngoài mặt trận cao nhất so với Quân Y các quân binh chủng bạn của QLVNCH. Điều này chứng tỏ rằng Binh Chủng TQLC đã tham dự những trận chiến ác liệt nhất tại chiến trường Miền Nam cũng như ngoại biên, vì lý do hạn chế của bài viết, tôi chỉ kể ra những trường hợp thương vong của các Y Sĩ TQLC.
 
Tử Trận (tiết mục “tử trận” và “bị thương” được viết theo tài liệu của hai niên trưởng BS Nguyễn Văn Thế và BS Trần Xuân Dũng, bài của BS Trần Xuân Dũng sẽ đăng trong ĐSST 2015, chi tiết các trận đánh do phỏng vấn trực tiếp những TQLC tham dự trận và  đọc Chiến Sử TQLC).
 
1-Bác Sĩ Trương Bá Hân- Trận Bình Giả.
 

blank 
  BS Hân (dấu X), Đại Uý Hoán.
 
Ngày 31/12/ 1964 Làng Bình Giả tại Bà Rịa bị quân Cộng Sản tấn công. TĐ 4 TQLC được lệnh đến giải vây, sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì có một trực thăng Mỹ với phi hành đoàn 4 người bị bắn rơi trong khu vực cách làng Bình Giả hơn 2 km. Khi TĐ 4 được lệnh đi tìm chiếc trực thăng này thì bị 1 Trung Đoàn VC phục kích, bao vây chia cắt, kết quả là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Nho, Tiểu Đoàn Phó Đại Úy Trần Văn Hoán bị tử thương, cố vấn Mỹ bị bắt.
Bác Sĩ Trương Bá Hân bị thương nặng, người mang máy của tiểu đoàn trưởng là Hạ Sĩ Vân cũng bị thương, anh cầu cứu Bác Sĩ Hân “Bác Sĩ ơi! Em bị thương”.  Bác Sĩ Hân đáp lại với giọng yếu ớt “Chờ chút xíu, tôi sang ngay”. Thấy giọng nói yếu ớt, Hạ Sĩ Vân bò lại tìm Bác sĩ Hân thì thấy ông bị trọng thương và qua đời ngay sau đó. Sau này khi Bác Sĩ Trần X Dũng về làm Y Sĩ Trưởng TĐ 4 chính anh Hạ Sĩ này đã kể câu chuyện cho BS Dũng.
Theo Thiếu Tá Tùy Viên của Đại Tướng Viên thì Tướng Tư Lệnh QĐ III lúc bấy giờ là Thiếu Tướng Cao Văn Viên, chỉ huy Chiến Dịch Bình Giả là Đại Tá Lâm Quang Thơ.  Tướng Viên cho đến năm 1963 vẫn là Đại Tá Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm có nghĩa ông là một tướng văn phòng, sau đảo chánh vì lý do chính trị ông được đề cử làm Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù rồi năm 1964 ông được vinh thăng thiếu tướng và làm Tư Lệnh QĐ III.
Trận Bình Giả đã xẩy ra mấy tuần trước khi TĐ 4 TQLC lâm chiến, Cha Xứ Làng Bình Giả đã báo về Tiểu Khu Phước Tuy rằng quân số VC hơn 1 trung đoàn với vũ khí tối tân. Theo Trung Úy Trần Ngọc Toàn ĐĐT ĐĐ 1/TĐ 4 thì trước đó ngày 9/12/64 VC đã phục kích trong khu vực gần đó bắn cháy 14 Thiết Vận Xa , ngày 28/12/64 VC dùng 2 đại đội tấn công Làng Bình Giả để nhử quân ta, TĐ 38 BĐQ được trực thăng vận đến giải vây bị địch phục kích tổn thất nặng, TĐ 33 BĐQ đến tiếp cứu bị VC phục kích ngay bãi đổ quân bị tan hàng, tiểu đoàn trưởng tử thương, ngày hôm sau TĐ 30 BĐQ đến tiếp viện giao tranh ác liệt với VC và bị tổn thất nặng, không bắt tay được với TĐ 38 BĐQ, phải rút lui vào Làng Bình Giả. TĐ 4 TQLC là lực lượng trừ bị cuối cùng của QKIII nên phải tham chiến ngày 31/12/64.
Theo một anh bạn của tôi lúc đó là phi công lái Khu Trục Cơ AD6 đóng tại phi trường Biên Hòa thì lúc chiến trận Bình Giả xẩy ra tại Biên Hòa ta có 50 chiếc AD6 đủ sức để san bằng khu rừng Bình Giả nơi VC ẩn núp, nhưng QĐ III đã không sử dụng hỏa lực quyết định này mà lại dùng “chiến thuật” tiếp cứu nhỏ giọt từng TĐ một, TĐ này bị đánh tan thì cho TĐ khác vào nên ta thảm bại!.
 
2-Bác Sĩ Trần Ngọc Minh-Trận Việt An.
 
Tháng 4/ 1965 TĐ 3 TQLC được tăng phái cho SĐ 2.BB. Theo Tr. Tá TQLC Lê Bá Bình, người đã tham dự trận này thì chỉ huy chiến dịch là Trung Tá Nguyễn Văn Toàn sau lên Trung Tướng TL.QĐIII. Cuộc  hành quân tại thung lũng Việt An tỉnh Quảng Nam là  để truy lùng một trung đoàn  của SĐ 3 Sao Vàng VC. Quân địch mang một cánh quân nhử quân ta tại Núi Chàm, Tr.Tá Toàn “ham mồi” ra lệnh cho TĐ 3 truy đuổi. Trong lúc TĐ3 tung các đại đội tiến xa tìm địch thì một cánh quân VC khác tấn công vào bộ chỉ huy của TĐ 3, trong số 26 TQLC bị tử thương có Bác Sĩ Trần Ngọc Minh, còn Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 3 Thiếu Tá Nguyễn Thế Lương thoát chết.
 
3-Bác Sĩ Lê Hữu Sanh-Trận Mộ Đức-Quảng Ngãi.
 
Tháng 6/1965 TĐ5 TQLC hành quân tìm địch ròng rã cả tháng mà không thấy, đến ngày về thì Tiểu Khu Quảng Ngãi xin gia hạn giữ TĐ5 thêm 1 ngày và thiết kế lệnh hành quân “sáng đi chiều về” cho TĐ5 vào Quận Mộ Đức. Tại đây có 1 trung đoàn VC chờ đón, phục kích và tấn công TĐ5, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Dương Hạnh Phước và Cố Vấn Mỹ tử trận.
Bác Sĩ Lê Hữu Sanh bị thương ở đùi. Theo 1 TQLC sống sót kể lại thì khi Bác Sĩ Sanh bị thương, anh kéo ông vào trong bụi cây để trốn. Khi bộ chỉ huy tiểu đoàn bị tràn ngập thì VC đi tìm thương binh để giết, anh TQLC này trốn cách đó 10 thước nghe rõ VC nói với BS Sanh: ”Mày là bác sĩ à? Tao cho mày phát súng ân huệ”. Hôm sau xác BS Sanh được chở về Bệnh Viện Tiểu Khu Quảng Ngãi và được người bạn cùng lớp là BS Võ Thương khâu vá vết thương trên trán và sau ót. Anh TQLC sống sót này đã kể cho BS Võ Thương câu chuyện thương tâm trên.
Sự việc TĐ5 TQLC bị Tiểu Khu Quảng Ngãi giữ lại 1 ngày để hành quân vào Quận Mộ Đức “sáng đi chiều về” có nhiều uẩn khúc, phải chăng trong Tiểu Khu này có nội gián?
 
4-Bác Sĩ Đinh Quốc Bảo-Căn Cứ Sarge- Bá Hô- Tỉnh Quảng Trị.
 
TĐ6 TQLC, năm 1971 cánh A đóng tại Sarge, cánh B đóng tại Bá Hô. Giữa Sarge và Bá Hô có 1 ĐĐ trấn giữ đường giao thông. VC tấn công ĐĐ này và pháo kích cả Sarge và Bá Hô, một trái hỏa tiễn 122 ly lọt vào hầm trú ẩn của BS Bảo và lấy đi mạng sống của ông làm cho cả TĐ 6 thương tiếc vì BS Bảo là người vui tính dễ mến. Đặc biệt trong trận pháo kích vào căn cứ Sarge này không ai bị thương tích gì ngoại trừ BS Bảo tử trận. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6 lúc đó là Thiếu Tá Đỗ Hữu Tùng, sau này lên Trung Tá LĐP LĐ 147 ông đã kể cho tôi chuyện này và cho  biết thêm BS Bảo rất đẹp trai và đào hoa. Thiếu Tá Cảnh TĐP TĐ 6 cũng cho tôi biết chi tiết giống như vậy.
 
Bị Thương:
 
1-Bác Sĩ Đinh Quốc An: TĐ6 TQLC hành quân tại Tân Uyên tháng 2/1967 BS An bị thương nặng vào chân, bệnh viện Cộng Hòa chê không chữa được nên phải chuyển về bệnh viện Bình Dân. Nhờ được Giáo Sư Trần Ngọc Ninh tận tình cứu chữa nên anh không bị cưa chân nhưng bị tàn tật vĩnh viễn.
 
2-Bác Sị Phạm Hữu Hảo: TĐ2 Trâu Điên TQLC. Năm 1966 miền Trung đại loạn. Nhóm phật giáo do tên Việt Cộng đội lốt nhà sư Thích Trí Quang cầm đầu làm loạn tại Huế- Đà Nẵng, chúng  xui phật tử xuống đường đình công bãi thị, mang bàn thờ xuống đường để cản trở lưu thông, áp lực công chức, quân đội theo chúng đòi tự trị Miền Trung, không theo chỉ thị của chính quyền trung ương tại Saigon, bên ngoài Huế nhiều trung đoàn VC tụ tập để sẵn sàng tiếp thu thành phố.
Trước tình thế này, chính  quyền trung ương ở  Saigon cử 1 LĐ ND và Chiến Đoàn B TQLC gồm TĐ 1 và 2 của Thiếu Tá Tôn Thất Soạn ra Đà Nẵng - Huế dẹp loạn. Ngày 14/4/1966, sau khi dẹp yên nội thù trong thành phố, Chiến Đoàn B tham dự cuộc Hành Quân Lam Sơn 283 để tiêu diệt quân Việt Cộng đang tụ tập tại phía Đông Bắc thành phố Huế. Từ ngày 21/6/1966 đến ngày 23/6/1966 TĐ 1 chiếm Bích La Thôn phía Bắc, TĐ 2 chiếm “Hương Lộ Buồn Hiu” tại Gia Đẳng, Phù Lưu dồn Trung Đoàn 808 VC (hậu thân của Tr Đoàn 95 VC) dọc theo Hương Lộ 555 đến bờ sông Vĩnh Định, Bích La Thôn. Tại đây chúng hết đường chạy vì có TĐ 1 chặn, TĐ 2 tàn sát Trung Đoàn 808 xác chúng ngập sông Vĩnh Định. Sau chiến thắng này Tiểu Đoàn Trưởng/ TĐ 2 Thiếu Tá Lê Hằng Minh được vinh thăng Trung Tá.
Chưa kịp mừng xong chiến thắng, TĐ 2 TQLC được lệnh di chuyển lên Quảng Trị, vì có nội tuyến tại QĐI nên VC biết trước cuộc hành quân (tài liệu VC đã xác nhận điều này). Chúng tổ chức tuyến phục kích tại phía bắc cầu Phò Trạch, cây số 29 bắc Huế. Sau khi bị hoãn lại 1 ngày (có lẽ để VC củng cố tuyến phục kích) ngày 29/6/66 TĐ 2 được lệnh di chuyển lên Quảng Trị và bị phục kích tại phía bắc cầu Phò Trạch. Sa cơ vì nội thù Trâu Điên Chúa Lê Hằng Minh gục chết bên cạnh trên 40 xác Trâu Điên khác, Y Sĩ Trưởng TĐ2 BS Hảo bị thương tại đùi, may nhờ đệ tử cõng chạy thoát khỏi vùng phục kích nên thoát chết.
Cuộc phản công của TĐ 2 Trâu Điên và các đơn vị bạn được tổ chức ngay sau đó, địch bỏ chạy để lại trên 233 xác chết cùng rất nhiều vũ khí lớn nhỏ...
 
3-Bác Sĩ Ngô Quang Trung: TĐ 3 TQLC hành quân tại Tân An năm 1967, tiểu đoàn đụng trận rất nặng, anh bị một viên đạn bắn sẻ trúng đầu, may nhờ nón sắt  viên đạn lệch hướng nên anh không chết mà chỉ bị thương. Từ đó BS Trung mang một vết thẹo trên thái dương bên phải, tóc không mọc được.
 
5-Bác Sĩ Lê Tấn Huỳnh Long và Bác Sĩ Nguyễn Trùng Khánh TĐ 1 TQLC: Tiểu Đoàn Trưởng/TĐ1 Trung Tá Nguyễn Thành Trí sau này là Đại Tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, ông cho tôi biết:TĐ 1 hành quân tại quận Kiến Hưng, tỉnh Chương Thiện đêm ngày 30/4/1970, Bác Sĩ Long bị miểng đạn pháo kích gẫy cột xương sống, trực thăng đến ngay chở anh vào BV Cần Thơ. Ngày 2/5/1970, Bác Sĩ Khánh đến thay, trong lúc anh đang nói chuyện với Trung Tá Trí khoảng 15 giờ thì một TQLC trong toán Biệt Kích TĐ đạp phải mìn, BS Khánh bị trúng miểng mìn bị thương tại bụng và cột xương sống. Sự kiện 2 người BS bị thương cột xương sống trong 2 ngày liên tiếp tại cùng 1 tiểu đoàn là hy hữu và làm xôn xao dư luận y giới Saigon làm cho các BS “thích sống lâu” chê binh chủng TQLC.
 
6-Bác Sĩ Đỗ Mỹ Ánh: TĐ 7 TQLC. Năm 1971 trong trận Hạ Lào, BS Ánh bị miểng đạn pháo kích 130 ly mất một con mắt, Y Tá Trưởng Trung Sĩ Phước tử trận, các y tá khác trong ban cấp cứu đều bị thương.
 
7- Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoàn, TĐ 1 TQLC, trận đổ bộ Triệu Phong, Quảng Trị, ngày 11/7/1972.
Khi nhận lệnh thay thế Sư Đoàn Nhẩy Dù để chiếm lại thành phố Quảng Trị , việc đầu tiên Thiếu Tướng Tư Lệnh TQLC Bùi Thế Lân nghĩ đến là phải cắt đứt đường tiếp tế huyết mạch cho đạo quân tử thủ Quảng Trị của Cộng Sản Bắc Việt tại Quận Triệu Phong 1 cây số Đông Bắc Quảng Trị. Nơi đây có Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 66 CSBV cùng với ít nhất Trung Đoàn địch có cả thiết giáp và phòng không yểm trợ. Trọng trách đổ bộ trực thăng vận được giao cho TĐ 1 TQLC. Cùng lúc TĐ 2 và một thiết đoàn chiến xa áp dụng ”Nhị Thức Bộ Binh Thiết Giáp” tiến hỏa tốc trên Hương Lộ 555 tới Triệu Phong đánh ngang hông địch, TĐ 4 và TĐ 7 làm trừ bị. Hỏa lực yểm trợ gồm 1 TĐ pháo binh 105 ly, 1 pháo đội 155 ly, không yểm chiến thuật và chiến lược B52, hải pháo từ Hạm Đội 7, tóm lại Tướng Bùi Thế Lân đã dùng tất cả những gì ông có trong tay để cắt cổ giặc tại Triệu Phong.
Ngày 11/7/72 TĐ 1 TQLC được bốc từ nhà thờ Điền Môn quận Hương Điền bằng 32 chiếc trực thăng. Khi đến Triệu Phong thì gặp hỏa lực phòng không dữ dội của địch, 29 chiếc trực thăng bị trúng đạn phòng không nhưng không rơi, 2 chiếc bị rơi. Riêng trực thăng chở Trung Đội Quân Y lại chở thêm mấy chục quả mìn chống chiến xa, chiếc trực thăng này bị trúng hỏa tiễn tầm nhiệt của địch bốc cháy dữ dội, BS Hoàn may mắn nhảy ra khỏi trực thăng trước khi chiếc này phát nổ. BS Hoàn thoát chết nhưng bị phỏng nặng tại mặt và thân thể, anh theo tiếng nổ của đạn M16 để bò về đơn vị ngày hôm sau. Vết thương phỏng cấp độ 3 đã làm anh bị tàn phế vĩnh viễn. Để đổi lấy chiến thắng Triệu Phong, 1/3 quân số TĐ 1 tử trận hoặc bị thương, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Đăng Hòa cũng bị thương.
Hai ngày sau cuộc đổ bộ này, một chiếc trực thăng  từ Hương Điền chở Bác Sĩ Huỳnh Trung Chỉnh vào Triệu Phong để thay thế BS Hoàn. Trực thăng vượt qua hỏa lực của 1 trung đoàn cùng với phòng không CSBV chật vật 3, 4 lần mà không đáp được vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Bị trúng đạn như tổ ong, phi công đành phải để BS Chỉnh nhảy khỏi trực thăng đứng chơ vơ trên đồng trống trong làn mưa đạn của giặc. Đại Úy Trần Quang Duật trưởng ban 3 kiêm ĐĐT Đại Đội Chỉ Huy TĐ 1 từ sau đống rơm nhẩy ra kéo BS Chỉnh vào tránh đạn, thấy BS Chỉnh chỉ mang theo ống nghe, Duật hỏi:
-Bs có mang thuốc men gì không?
Chỉnh buồn rầu đáp:
-Thùng thuốc trên trực thăng bị trúng phòng không vỡ tan tành rồi!
Duật an ủi:
-Thôi,có BS là quý rồi, thương binh và binh sĩ sẽ lên tinh thần khi biết có BS, biết đâu họ sẽ qua khỏi.
Nói xong Đại Úy Duật dẫn BS Chỉnh tới bãi đất chỗ thương binh nằm. Duật sung sướng nhìn các thương binh vui mừng khi thấy có BS đến thăm, nhất là ông BS này lại kiêm luôn ca sĩ nổi danh mà họ từng ái mộ.
Tôi không biết tâm trạng của Kinh Kha lúc qua Tần diệt bạo chúa ra sao, tôi cũng không biết tâm trạng của BS Chỉnh lúc đơn thương độc mã bay vào Triệu Phong để yểm trợ TĐ 1 TQLC giết giặc như thế nào, nhưng tôi có thể đoán cả hai đều có cùng một tâm trạng.
 
CÂU CHUYỆN VỀ HAI BÁC SĨ QUÂN Y TQLC TỰ ĐI TÌM CÁI CHẾT:
 
1-Bác Sĩ Vũ Đức Giang, TĐ7 TQLC.
 
blank

 
Một buổi trưa ngày 16/ 3/1975, nắng vàng rực rỡ, tôi lái xe từ Mỹ Thủy nơi có Bộ Chỉ Huy LĐ 258 TQLC đến Phong Điền nơi BCH TĐ 7 đóng để tìm  “bạn vàng” BS Nguyễn Quang Khoa rủ đi uống rượu. Đến nơi thì mới biết BS Khoa đã được thuyên chuyển về LĐ 147 TQLC, người thay thế anh là BS Giang mới ra trường và làm Y Sĩ Trưởng TĐ 7 được hơn 1 tuần.  BS Giang người tầm thước, nước da trắng với cặp kính cận thư sinh, tóc bồng bềnh trông rất nghệ sĩ. Gặp tôi Giang ngạc nhiên nhìn thẳng vào mắt tôi hỏi:                                                                                   
- Anh Bằng, tôi thấy danh sách anh về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn, sao bây giờ anh còn ở đây?
Tôi cười :
-Sắp đánh lớn rồi, về SĐ làm” thợ vịn” cho các quan lớn Quân Y chán chết, tôi xin tình nguyện về LĐ để giúp anh em được nhiều hơn, vậy mà TĐT và ĐĐT Quân Y vẫn không vui, giờ thì làm “phó thường dân” tại ĐĐ Quân Y LĐ 258 gần đây.
Giang trầm ngâm một lúc rồi nhìn tôi:
-Anh làm vậy cũng đúng, chưa bao giờ quân đội cần BS như lúc này.
Câu trả lời của ông niên đệ này làm tôi chới với, tôi đang chờ đợi từ ông vài lời khuyên nhủ thường tình về BV để xin 2 chữ “bình an” thì lại được ông “giáo lý” một câu thật chí tình chí lý làm tôi tôi nể phục, bắt tay Giang tôi nói:
-Thôi mình vào trong nói chuyện.
Đến căn lều cứu thương, tôi thấy bên ngoài có những hố phòng thủ vững chắc, bước vào trong mấy anh quân y tá ban chỉ huy với quân phục chỉnh tề đứng ngiêm chào kính, trên bàn thuốc men, dụng cụ cấp cứu bầy biện ngăn nắp và có hệ thống, góc phòng có 1 giá súng với 5,6 khẩu M16 lớp thép sáng bóng dưới một lớp dầu mỏng, mấy cái balo, mũ sắt đặt thứ tự. Nhìn mọi thứ đâu ra đó tôi thầm nghĩ “một cấp chỉ huy tư cách không có thuộc cấp tồi”. Nơi Giang ngủ có một cái bàn nhỏ và vài cái ghế đóng bằng gỗ thùng đạn pháo binh, trên bàn có mấy cuốn sách y khoa và vài tập nhạc, góc phòng là 1 chiếc guitar bên cạnh một băng ca mở rộng làm chỗ ngủ. Nhìn cái băng ca rồi nhìn cặp mắt thâm quầng của Giang tôi buột miệng :
-Giang có ngủ được không?
-Không anh, cả tuần rồi, ban ngày thì vậy đến đêm gió núi thổi lạnh đến xương, tôi đang định ra Huế mua cái túi ngủ.
 Tôi vội can:
-Đừng, nằm trong túi ngủ nếu đêm giặc tấn công thì không nhẩy xuống hố kịp, ban đêm gió núi thổi luồn qua vải bố băng ca nên lạnh, Giang sai đệ tử kiếm mấy tấm bìa carton trải trên mặt bố thì sẽ bớt lạnh.
Giang cám ơn tôi rồi sai đệ tử pha trà đãi nhưng tôi từ chối và rủ anh ra Phá Tam Giang uống café. Thấy anh có vẻ thích nhưng ngần ngại vì đi xa tiểu đoàn lỡ có việc gì thì về không kịp, tôi trấn an và cho biết trên xe có máy PRC 25, mình sẽ lên Ban 3 tiểu đoàn cho họ biết tần số, có gì họ sẽ gọi.Tôi lái xe, Giang ngồi cạnh phóng thẳng ra Phá Tam Giang tìm được một quán café sạch sẽ bên bờ phá. Để anh tài xế ngôi lại xe ôm máy PRC 25 và súng M16 canh chừng, chúng tôi vào quán, cô chủ quán mặc 1 chiếc áo dài cũ đơn sơ nhưng không dấu được vẻ đẹp thanh tú, kiều diễm của một kiều nữ Bích La Thôn lễ phép mời chúng tôi ngồi bên một cái bàn cũ kỹ rồi bằng một giọng Quảng Trị cô nhỏ nhẹ hỏi:
-Dạ, hai en uổng nược chi?
Giang rất thích thú nhìn và thưởng thức một nền văn hóa khác hẳn với văn hóa Saigon, anh mơ màng bên khói café ngắm nhìn cảnh thanh bình tĩnh lặng của trời mây sóng nước. Trên mặt phá vài chiếc ghe và gọ chậm chạp qua lại văng vẳng đâu đó vài câu hò não ruột của mấy o vùng sông Hương núi Ngự. Tôi nhờ cô chủ quán mang mấy chai bia cùng đồ nhắm cho anh tài xế rồi ngồi cạnh Giang tâm tình. Tôi được biết Giang đã có vị hôn thê, 2 người sẽ làm lễ cưới năm tới, và kỳ này khóa của anh có 5 BS về TQLC. Nghe anh kể  lúc lễ mãn khóa quả cầu trên đỉnh cột cờ tại Vũ Đình Trường tự dưng bị gẫy làm tôi lo sợ nghĩ đến binh thư Tàu: “lúc ra quân mà cờ bị gẫy là điềm gở”. Không nói ra nhưng trong lòng tôi thật là bi phẫn vì trận chiến quyết liệt giữa ta và giặc sẽ xẩy ra bất cứ lúc nào mà tại sao mấy anh lớn trong Quân Y TQLC lại đẩy mấy ông niên đệ này ra tiểu đoàn ngay thay vì để họ có chút thời gian học hỏi kinh nghiệm chiến trường tại Lữ Đoàn hay Sư Đoàn?
Giang là người có máu nghệ sĩ, anh rất thích âm nhạc thơ phú. Anh vui vẻ rút trong túi tờ giấy chép một bài ca dao xứ Huế, khoe rằng tối qua đi ăn với mấy anh sĩ quan TĐ 7 TQLC có người đọc cho anh bài ca dao này, anh thấy hay và lạ nhưng có mấy chỗ không hiểu nên muốn hỏi tôi:
 
Đường lên xứ Huế quanh quanh.
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Thương em anh cũng muốn vô.
Sợ Truông Nhà Hồ sợ Phá Tam Giang.
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn.
Truông Nhà Hồ nội tán phá tan.
Đường vô muôn dặm quan san.
Anh vô anh được bình an em mừng.
 
Tôi biết những điều Giang thắc mắc nên giải thích bài ca dao này có lẽ có từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu đầu thế kỷ 18 để ca tụng quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng có công dẹp giặc tại Truông Nhà Hồ và trị thủy tại Phá Tam Giang. Người Trung gọi khu rừng rậm hoang vắng là truông, ngày xưa Truông Nhà Hồ ở cạnh làng Hồ Xá ranh giới hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị giặc cướp rất nhiều, quan nội tán đã dùng mưu dẹp chúng. Còn Phá Tam Giang lúc trước sâu và sóng gió rất nhiêu, quan nội tán phá đá ngầm và mở cửa sông cho nên phá mới hiền hòa như ngày nay. Giải thích xong tôi cười và đùa: đọc bài ca dao này tôi thấy một điều, 2 câu cuối nói lên sự chung thủy, thương và lo lắng cho chồng của các o xứ Huế, còn mấy đấng mày râu xứ này thì cũng hơi bạc tình vì đã yêu nhau thì sợ gì đám giặc cỏ Truông Nhà Hồ và sóng gió Phá Tam Giang. Đám con trai Saigon tụi mình thì khác xa vì “Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua…Yêu nhau chẳng ngại đường xa, đá vằng cũng quyết, phong ba cũng liều…”
Chúng tôi nói về đủ mọi thứ chuyện, từ văn chương, âm nhạc đến thời sự, tôi nhận thấy Giang là một con người tư cách,ngay thẳng, nghệ sĩ nhưng cứng rắn, cương trực …
Chẳng mấy chốc mặt trời đã ngả hướng Tây, ráng chiều đổ xuống phản chiếu mây nước Phá Tam Giang thành mầu đỏ rực rỡ. Giang chăm chú ngây dại nhìn mây nước chuyển mầu, nét mặt sững sờ bật nói:
Sao lại đỏ như máu thế này?
Tôi giải thích: Có gì đâu, ánh hoàng hôn màu đỏ phản chiếu trên mây nước, ngày nào cũng như vậy.
Con người là một linh vật, phải chăng linh tính của Giang đã báo trước cho anh biết điều chẳng lành sẽ xẩy đến với anh tại đây 10 ngày sau đó?
Tôi đưa Giang về TĐ lúc trời tối, bịn rịn chia tay, tặng anh tấm bản đồ Huế- Đà Nẵng và một cái địa bàn sau khi đã chỉ cặn kẽ cách sử dụng. Hai thứ này từng là “bửu bối mưu sinh thoát hiểm” của tôi, và cũng không ngờ đây là lần đầu mà lại là lần cuối tôi gặp anh, những mảnh đời trong thời chiến chẳng khác gì “kiếp bèo dạt hoa trôi” hợp tan vô định!
Ngày 18/3/1975 LĐ 258 TQLC, có tôi là Y Sĩ ĐĐQY LĐ 258, di chuyển về đèo Phước Tượng với nhiệm vụ bảo vệ QL I Huế- Đà Nẵng để LĐ 147, SĐ I BB, và các đơn vị khác thuộc Lực Lượng Tiền Phương QĐ I tại Huế- Thừa Thiên rút về Đà Nẵng theo QLI.
Bộ Chỉ Huy LĐ 258 và TĐ 1 TQLC đóng tại Bắc Sông Truồi, TĐ 8 TQLC đóng tại Phú Lộc, Sư Đoàn 325 CSBV điên cuồng tung các trung đoàn đánh phá để cố cắt đứt QL I nhưng chúng đều bị chúng tôi đánh tan “ôm đầu máu” chạy trốn vào núi Trường Sơn.
Ngày 25/3/1975  là ngày các lực lượng Tiền Phương QĐ I rút bỏ Huế về Đà Nẵng. Muốn cho chắc ăn, ngoài lực lượng sẵn có là LĐ 258, Tướng Bùi Thế Lân đã ra lệnh thọc ĐĐ 2 TĐ 8 của Thiếu Úy Trần Như Hùng tiến tới  thôn Trung Kiên, chân núi Vĩnh Phong phía Đông QL I và cánh B TĐ 16 TQLC xuống Phú Lộc chế ngự phía Tây QL I để chờ đón đạo quân Tiền Phương rút về Đà Nẵng trên QLI…
Trong lúc BCH TĐ 8 và cánh B TĐ 16 đang đóng tại Phú Lộc và sáng ngày 25/3/1975 tôi và LĐ 258  được lệnh rút về Đà Nẵng, cây Cầu Sông Truồi đã bị Công Binh QĐI phá hủy trong đêm gây trở ngại không ít cho việc tản thương, tôi lội qua Sông Truồi nước trong veo, đi qua Phú Lộc, chúng tôi  không thấy một tên VC nào, vậy mà không hiểu lấy tin ở đâu (?) và của ai (?) mà  các vị tướng chỉ huy QĐI lại nghĩ là Phú Lộc đã rơi vào tay giặc. Ngày 25/3/1975 các ông ra lệnh cho LĐ 258 rút lui về Đà Nẵng, còn LĐ 147 TQLC và các đơn vị khác thuộc lực lượng Tiền Phương QĐI  phải rút bằng Hải Quân tại Thuận An phía Đông Phá Tam Giang. Thế là thảm kịch đã xẩy ra, xác quân ta nằm đầy bãi Thuận An, rất nhiều TQLC không chấp nhận bị VC bắt đã dùng lựu đạn tự sát tập thể, máu quân ta nhuộm đỏ sóng Thuận An, gần như toàn bộ lực lượng Tiền Phương QĐI bị tan rã.
Theo hồi ký của những sĩ quan TQLC sống sót từ “Pháp Trường Cát Thuận An” thì LĐ 147 TQLC được lệnh bỏ khí giới nặng, lương thực, mỗi TQLC 1 M16 và 1 băng đạn hỏa tốc rút về Thuận An. Ngày 25/3/1975, khi đến Thuận An tàu Hải Quân thì có ngoài khơi nhưng không vào đón, Tướng TL Tiền Phương đã bỏ về Đà Nẵng (!) và Tướng TL QĐI thì “im lặng vô tuyến”. Họ là 2 người duy nhất tại QĐI có thẩm quyền điều động Không Hải Lục Quân của QĐI để cứu LĐ 147 nhưng họ đã không làm gì, cho nên thảm kịch xẩy ra…
Theo các nhân chứng còn sống sót từ cái “Pháp Trường Cát Thuận An” như BS Rậu, BS Khoa, và các sĩ quan TQLC khác thì sáng ngày 25/3/1975  các TQLC của LĐ 147 xếp hàng ngay ngắn trên bãi biển Thuận An chờ tàu vào đón. Ngoài khơi có 1 Hạm Đội Hải Quân, nhưng không chiếc tàu nào vào. Chờ đến chiều thì quân truy kích CSBV đuổi kịp, chúng chiếm các đồi cát cao chung quanh và dùng đủ loại súng lớn, nhỏ tác xạ vào TQLC đang phơi mình trên bãi cát trống trải. Quân ta hết nước, hết đạn nên bị thất thế đành nằm trên cát chờ chết…
Sáng ngày 26/3/1975 có một chiếc LCU duy nhất vào đón được BCH LĐ 147 gồm LĐT Đại Tá Nguyễn Thế Lương, LĐP Trung Tá Nguyễn Đăng Tống và thương binh. Theo các Quân Y tá LĐ 147 cho biết thì Bác Sĩ Vũ Đức Giang và vài quân y tá TĐ 7 khiêng thương binh lên tàu sau đó anh điểm danh y tá TĐ 7 rồi tất cả cùng trở xuống để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
Khi tôi thay BS Rậu làm Đại Đội Trưởng Quân Y LĐ 147 thì một hôm Hạ Sĩ Nhất Quân Y Nguyễn Văn Được - người sống sót từ “Pháp Trường Cát Thuận An”- hỏi tôi:
-Ông thầy có biết BS Vũ Đức Giang TĐ 7 không?
-Biết. Mà có chuyện gì?
-Ổng ngon quá! Ngày 26/3/1975 ổng và mấy đệ tử khiêng thương binh lên tàu. Xong việc ổng điểm danh từng y tá TĐ 7 một rồi tất cả xuống tàu lên bờ về lại TĐ. Em giữ ổng lại nói “BS trở lại thì 100/100 là chết” nhưng ổng trừng mắt la em “chú mày đừng xúi bậy, TĐ đang chiến đấu sẽ có thêm thương bình, anh bỏ đi sao đành” . Xong rồi ổng xuống tàu đi dưới làn mưa đạn thượng liên của VC, em nhìn mà thấy ớn. Em nói thiệt tình đó ông thầy.
-Thì tao có nói mày không thiệt tình hồi nào đâu! Có điều chú mày bậy thật, Bác Sĩ TQLC không bao giờ đào ngũ trước hàng quân!
 
Về số phận của BS Giang, hãy đọc hồi ký của MX Cao Xuan Huy trong Tháng Ba Gẫy Súng:
“Rạng sáng ngày 27/3/1975 tôi còn gặp cả một thằng bạn cũ cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, Vũ Đức Giang, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Tôi ngạc nhiên kêu lên.
-“Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?”
-“Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.”
-“Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?”
-“Tao Thủy Quân Lục Chiến.”
-“Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày mà cũng dám giết người à? Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến tao không gặp mày?”
-“Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.”
-“Mày bác sĩ à?”
-“Ừ, tao về Tiểu Đoàn 7.”
-“Tội nghiệp thằng bé, mày sợ đời không có gió sương à?”
-“Gió sương gì? Cởi trần ngồi suốt đêm ngoài trời thế này mày bảo không bị gió sương à?”
Trời sáng rõ, mấy tên Việt Cộng gác chúng tôi cầm súng đi qua đi lại trước cổng.”
Giang bị tù tại trại tù Ái Tử-Quảng Trị. Theo hồi ký “Khóc Bạn” của BS Hoàng Thế Định, một người bạn đồng tù với Giang thì trong tù anh vẫn hiên ngang giữ tư cách của một Bác Sĩ Quân Y TQLC sa cơ, không cúi đầu luồn cúi quân thù nên anh bị chúng đầy ải bắt đi lao động khổ sai trong khi các đồng nghiệp của anh được làm trong bệnh xá trại tù. Mùa xuân năm 1977, đa số đồng ngiệp đã có danh sách được thả ngoại trừ Giang. Một kẻ sĩ có tư cách như BS Vũ Đức Giang khi sa cơ bị quân thù làm nhục thì chỉ lấy cái chết để rửa, đêm 30 tết năm 1977 noi gương các anh hùng tiền nhân, Giang đã mượn một liều thuốc độc mạnh tuẫn tiết…
Không bỏ thương binh và đồng đội để tìm đường thoát thân trong hoàn cảnh tuyệt vọng mà cấp chỉ huy Lữ Đoàn và Quân Đoàn đã bỏ đi; tự vẫn để bảo tồn danh dự . Đó là Bác Sĩ Vũ Đức Giang. Trong quân sử thế giới đã có bao nhiêu người làm được như vậy?
 
2-Bác Sĩ Đặng Tuấn Long, Tiểu Đoàn Quân Y TQLC.

blank
Trái: BS Đặng T Long, Phải: BS Nguyễn Lê Minh.
 
Biết viết gì về Long đây? Anh đẹp trai, học giỏi con nhà giàu, anh ngang tàng, vui nhộn, giỏi thể thao và hát hay, nếu muốn, anh có thể là 1 BS dân sự mở phòng mạch hốt bạc nhưng anh tình nguyện vào quân đội và để cho  “đời trai có chút sương gió” anh lại tình nguyện vào TQLC. Long đi lội TĐ tác chiến gần 2 năm đến đầu năm 1974 thì về TĐ Quân Y…
Một buổi sáng cuối năm 1973, Bác Sĩ Vương Gia Nhơn, Y Sĩ Trưởng TĐ 2 Trâu Điên, không biết ngoại giao ra sao mà “chôm” được chiếc xe Jeep của Tiểu Đoàn Trưởng láng coóng với hai cần câu đến Làng Cọp Biển trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” rủ tôi đi chơi. Tôi đề nghị Nhơn đến TĐ của Long - lúc ấy Long đang lội TĐ tác chiến - đang đóng tại bờ sông Thạch Hãn rủ anh cùng đi. Nhơn ngồi ghế trưởng xa cứ vài phút anh lại phải giơ tay chào lại các TQLC thấy xe VIP đứng nghiêm chào kính, tôi bực mình nói:
-Lần sau cậu lấy cái xe không cần câu đi cho nó thoải mái, chứ cứ chào như vậy cậu sái tay.
BS Nhơn, một tay chơi khét tiếng của các vũ trường Saigon, nổi danh với bước Tango 17, 3/4 mà không em cave nào không ái mộ, từ khi đeo phù hiệu TĐ 2 Trâu Điên thì anh lại càng đào hoa hơn. Mỗi kỳ tiếp tế sĩ quan hậu cứ phải điên đầu sắp xếp cho năm bẩy “em gái hậu phương” mang đồ tiếp tế cho anh mà không đụng độ nhau. Anh là một người hùng, sau 30/4/1975 đi tù nhưng vẫn hiên ngang giữ tư cách của một BS TQLC vì vậy anh đi mút chỉ, sau khi xong tù anh vượt biển và mất tích…
Xe đậu trước hầm trú ẩn của Long, bên cạnh bờ sông, anh đang ngồi ngoài hầm uống rượu một mình, chai đế đã vơi quá nửa, bao Bastos xanh chỉ còn vài điếu, thấy chúng tôi Long chạy đến:
-Các cậu coi chừng, TĐ báo động có thằng VC bắn sẻ bên kia sông…
Tôi nhìn qua sông, cả trăm bụi rậm um tùm, nhưng chúng tôi không phải chờ lâu, một tiếng rít qua tai, viên đạn trúng bao cát trên nóc hầm làm tung tóe cát. Thấy viên đạn trượt đích xa, chúng tôi không thèm ẩn núp, Long lẩm bẩm chứi thề:
-Tổ cha thằng nhà quê, đã bắn dở rồi mà cứ hay bắn, anh chỉ ngón tay tiếp, nó ở bên kia kìa…
Nhìn qua sông tôi không thấy gì nhưng TĐ của Long phản ứng thật nhanh. Một tiếng “đề pa” của khẩu 75 ly không giật, viên đạn nổ bên kia sông hất tung bụi cây, tên bắn sẻ và khẩu súng lên trời, vài tràng thượng liên địch nổ vu vơ, một phát 75 ly thứ hai nổ, khẩu thượng liên câm họng, xác hai tên xạ thủ bay bay… rồi tất cả rơi vào im lặng. Nhìn BS Nhơn tôi lắc đầu:
-Chúng nó chào cái xe có cần câu của cậu đó. Vậy là hết đi chơi! TĐ chắc đang báo động!
Sau khi bảo tài xế đậu xe vào chỗ khuất, chúng tôi vào hầm trú ẩn. Long sai đệ tử mang thêm hai cái ly và chai rượu mới, uống xong vài ly, tôi hỏi Long:
-TĐ tớ sắp về Saigon dưỡng quân, cậu có muốn gửi gì cho em bé hậu phương không?
Long cười cay đắng:
-Tớ bây giờ độc thân tại chỗ, em bé của tớ đi lấy chồng rồi.
Uống thêm ly rượu anh tiếp:
-Mới có mấy tháng trước, em tìm tớ còn nói yêu tớ trọn đời vậy mà tháng trước về phép thì em đã có chồng, em “thanh minh thanh nga” là vẫn yêu tớ, nhưng vì tớ là lính rằn ri không biết sống chết lúc nào mà em không muốn làm góa phụ.
Tôi biết mối tình lãng mạn của Long với một cô bé xinh đẹp sinh viên Luật Khoa tên là H.. có cô chị cũng là sinh viên luật “kỳ đà cản mũi”, vì bà mẹ có tính cổ lỗ sĩ không muốn cô em “lên xe hoa” trước cô chị  nên Long phải mang bạn vàng là BS Nghiêm Hữu Hùng “hối lộ” cho cô chị. Từ đó Long và cô H. mới được tự do tình tự. Mối tình của họ thật là đẹp thế mà tự nhiên gãy đổ giữa đường chỉ vì Long theo tiếng gọi của non sông mặc áo rằn để bảo vệ cho cô và những người hậu phương…
Buổi nhậu chỉ chấm dứt khi “người hùng” Vương Gia Nhơn say gục trên bàn…
 
Đầu năm 1974, TĐ 9 TQLC làm Địa Phương Quân giữ tuyến Triệu Phong - Bích La Thôn - Đê Long Quang, tôi đang buồn vì lâu ngày ở chỗ khỉ ho cò gáy này, xa hẳn ánh sáng văn minh thành thị thì bất ngờ toán tiền đồn Đại Đội Chỉ Huy-TĐ 9 báo tin có 2 Bác Sĩ TQLC đến thăm. Đó là 2 “bạn vàng”,  BS Đoàn Trọng Thiên và BS Đặng Tuấn Long. Tôi thật mừng và cảm động biết 2 bạn mình đi bộ hơn 10 km để đến thăm, nhất là khi biết Đặng Tuấn Long khi đến bờ sông Vĩnh Định đã không dùng cầu mà bơi qua sông. Mời bạn vào hầm, tôi nhìn Long lắc đầu:
-Bạn liều quá! Sông Vĩnh Định đầy ma VC, dưới đáy sông là xương cốt của 1 Trung Đoàn 808 VC (hậu thân của Tr. Đoàn 95) bị TĐ 2 giết mấy năm trước đó.
Long cười sảng khoái:
- VC sống tớ còn không sợ nữa là ma VC, chán quá, đi TQLC để đánh nhau mà bây giờ phải làm Địa Phương Quân giữ đất…
- Cậu chiụ khó chờ đi. Tụi VC đang xây con đường Trường Sơn Đông chạy qua gần Thượng Đức- Quảng Nam, thế nào nó cũng nhổ cái gai Thượng Đức, Tướng Trưởng sẽ mang Nhảy Dù về giữ, và để “dương đông kích tây” chúng nó sẽ thọc vài SĐ đánh tụi mình, lúc đó thì tha hồ cho cậu đánh… Mà thôi, nói chuyện đánh nhau nhức đầu, các cậu may, em bé hậu phương mới gửi cho tớ mấy chai rượu và đồ nhậu, hôm nay mình uống cho đã…
Tôi mở thùng quà, bên trong có 2 chai Martell và mấy gói đồ khô, gọi anh đệ tử đưa cho anh một chai và thùng đồ nhậu, bảo anh làm đồ nhậu rồi chia 2, nửa cho ban cứu thương, nửa cho tụi tôi, Long mở chai rươu rót vào 3 cái ca nhà binh rồi không đợi ai mời anh uống một ngụm lớn, khà một tiếng anh nói:
-Thơm, ngấm tới đâu sướng tới đó.
Hít một hơi Bastos xanh anh tiếp: kìa 2 cậu uống đi chứ.
Chúng tôi cụng ly, uống lai rai, tâm sự đủ mọi chuyện, chẳng mấy chốc mấy đĩa mồi thơm được dọn ra, Long và Thiên đều khen “em gái hậu phương” của tôi đảm đang, đi chợ giỏi, chừng nào thì “cưới”, tôi vội cải chính:
- Cưới gì, mình đi lính sống chết giờ nào không biết, lấy vợ chỉ làm khổ người ta. Mấy tháng trước TĐ về Saigon dưỡng quân, có một em học Văn Khoa thấy tớ là dân rằn ri tưởng không biết gì nên em mang bài thơ “Khóc Bằng Phi” của Vua Tự Đức ra khoe là bài thơ tình đầu tiên của văn học sử Việt Nam. Tớ nói em sai rồi, bài thơ tình đầu tiên hiện hữu trên văn học Việt Nam là bài thơ tình của Cụ Nguyễn Trãi gửi bà Thị Lộ gần 400 năm trước bài Khóc Bằng Phi. Cô bé không tin bắt phải chép ra. Tớ ra điều kiện là sẽ chép để em vào thư viện kiểm chứng, nếu đúng thì em phải trả tớ rượu và đồ nhậu vì lính xa nhà chỉ cần 2 thứ đó, em bằng lòng cho nên hôm nay các cậu mới có rượu uống.
Thiên trầm ngâm xoay xoay ca rượu:
-Các bậc đế vương và vĩ nhân khi đau khổ tột cùng mới làm thơ, và thơ của họ thường khác người. Như trong bài Khóc Bằng Phi vua Tự Đức đã có hai câu thơ để lại cho hậu thế: ”Đập cổ kính ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hơi.”. Tớ chưa biết bài thơ tình của Cụ Nguyễn Trãi, cậu đọc đi.
- Bà Thị Lộ là vợ bé của Cụ Nguyễn Trãi, bà tằng tiụ với Vua Lê Thái Tông thua bà nhiều tuổi, nhà vua mê bà quá nên kéo bà về kinh đô Thăng Long, phong bà một hư chức Lễ Nghi Học Sĩ để dậy cung nữ trong cung nhưng sự thực để 2 người được tự do tình tự. Cụ Nguyễn Trãi lúc đó về hưu tại Côn Sơn - Hải Dương, nhớ vợ quá làm một bài thơ, vì bài thơ làm đã quá 500 năm, các tác giả viết lại có những câu hơi khác nhưng đại ý thì cũng như nhau:
 
- Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng 
( Tạm dịch: mạo muội thử hỏi khách lầu son.),
- Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng,
- Ngoài ấy ví dầu còn áo lẻ 
(Ngoài ấy: ngoài kinh đô, ví dầu:
 nếu như có, áo lẻ:áo mặc trong?)
-Cả lòng mượn lấy đắp cho cùng.
(Cả lòng: rộng lượng, rộng lòng)
 
Long cười:
-Bà Thị Lộ là gốc bán chiếu gon, tức là mari-sến thì biết quái gì về lễ nghi mà dậy cung nữ, chắc là bà dậy chuyện phòng the, cái truyền thuyết đối đáp trong bài thơ” Cô Bán Chiếu Gon” có lẽ do Cụ Nguyễn Trãi làm cho bà, còn bài thơ này thì đã trên 500 năm trước tuy hay nhưng khó hiểu quá.
Chẳng bao lâu, rượu và thịt cũng cạn, Long nốc ngụm cuối cùng rồi nói:
-Lâu lắm mới có ngày vui như vậy. Nói xong anh nổi hứng với cây đàn Guitar, so lại giây, giữa cảnh đồng quê hoang vắng tiếng đàn thánh thót nổi lên, giọng ca cao và buồn:
 
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài. Mắt em, ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh… Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều luân lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây…
 
Hát xong, Long rủ Thiên về:
-Bọn tớ phải đến Hương Lộ Buồn Hiu nhìn cảnh hoàng hôn tại đó, xem nó buồn như thế nào.
Tôi không cản, tiễn hai bạn tới cổng trại chỉ hướng:
-Năm 1953 quân Pháp từ các làng ven biển phía Bắc Phá Tam Giang như Vân Trình-Mỹ Thủy-Gia Đẳng tiến quân theo Hương Lộ 555 được nửa chừng thì bị Trung Đoàn 95 VC chận đánh không tiến được,cho nên tớ nghĩ “Street Without Joy” của Bernard Fall là giải đất một cạnh là nửa Hương Lộ 555 phía biển, cạnh kia là vùng bờ biển Bắc Phá Tam Giang gồm các làng Vân Trình-Mỹ Thủy-Gia Đẳng. Các cậu đi qua bãi cát này sẽ gặp Hương Lộ 555, rẽ trái hướng ra biển đến làng Mỹ Thủy thì các cậu đã đến nơi. Đến Mỹ Thủy trời đã tối các cậu nên ngủ tại ĐĐ Quân Y LĐ 258, có BS Nguyễn Lê Minh ở đó.Thôi hẹn gặp lại.
Tôi chẳng bao giờ gặp lại Long. Sau 30/4/1975 tôi đi tù tại Trảng Lớn- Tây Ninh, BS Đặng Tuấn Long đi tù tại trại tù Kà Tum vốn là mật khu VC gần biên giới Tây Ninh- Miên. Theo anh Phạm Trung Kiên một người bạn cùng tù kể lại thì trong tù Long vẫn hiên ngang giữ khí phách của một Bác Sĩ Quân Y TQLC, không sợ bọn quản giáo, sẵn sàng “kê tủ đứng vào họng chúng” vì vậy Long bị chúng trù dập, hết đánh đập lại đến chuồng cọp. Long biết rằng cái đau nhất đối với bọn quản giáo VC là để tù trốn thoát nên anh đã âm thầm sửa soạn vượt ngục, ôn lại những bài học “mưu sinh thoát hiểm” của TQLC, anh cũng biết rằng vượt ngục tại Kà Tum thì 9 phần chết 1 phần sống nhưng anh không sờn lòng. Tháng 5/1978 Bác Sĩ Đặng Tuấn Long đã vượt ngục một mình và từ đó đến nay không còn ai biết tin tức của anh.
                 
CÂU CHUYỆN TAN HÀNG CỦA QĐI VÀ SỰ MẤT TÍCH CỦA MỘT BS TQLC .
 
Sau khi bị mất gần sạch Quân Đoàn I Tiền Phương, chúng tôi rất hoang mang vì sự im lặng khó hiểu của cấp chỉ huy QĐI. Tối ngày 28/3/1975 Tướng Trưởng mở 1 cuộc họp các Tư Lệnh Sư Đoàn và Quân Binh Chủng của QĐI, vì lý do tình cờ tôi đã có mặt trong buổi họp này. Tại đây trước sự kinh ngạc của mọi người tham dự, Tướng Trưởng tuyên bố “mình rút đêm nay” mà chẳng cho lệnh lạc hay kế hoạch gì hết.
Chỉ huy QĐI có 3 vì Tướng: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là Tư Lệnh, Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc-Tư Lệnh Phó, Trung Tướng Lâm Quang Thi- Tư Lệnh Phó kiêm Tư Lệnh Tiền Phương. Thiếu Tướng Lạc đả bỏ về Saigon hôm 26/3/1975 rồi vì lý do “kẹt máy bay” không trở lại (trích CTTB, Hồ Văn Kỳ Thoại trang 273), Trung Tướng Thi, sau buổi họp đêm 28/3/1975 dùng trực Thăng bay ra chiến hạm HQ5 lúc 10.40 pm, còn Trung Tướng Trưởng bay về Non Nước nơi có Bộ Chỉ Huy SĐ TQLC để rồi sáng hôm sau, ngày 29/3/1975, ông là người đầu tiên lội ra chiến hạm HQ404. Trước khi đi ông đã nói với Đại Tá Nguyễn ThànhTrí Tư Lệnh Phó SĐ TQLC: “coi như đây là một cuộc tự thoát”.
 
Tính cho đến sáng ngày 29/3/1975 toàn thể 3 vị tướng chỉ huy QĐI đã bỏ tất cả những gì còn lại của QKI để ra đi. QĐI như rắn mất đầu và hỗn loạn đã xẩy ra…
Tướng Lân Tư Lệnh SĐ TQLC và Tướng Thoại Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải bị lạc trong dẫy núi Sơn Trà, nơi có một trung đội Đặc Công VC đang đi tìm hai ông, may mắn được “tự thoát” vì tình cờ có 1 thuyền nhỏ của HQ đi qua, nghe thấy tiếng gọi của Tướng Thoại nên vào cứu.
Tướng Khánh Tư Lệnh SĐI Không Quân bị lạc tại một bãi biển hoang vắng “tự thoát” bằng cách chiếu đèn pha trực thăng làm hiệu nên được HQ802 vào cứu.
Tướng Hinh Tư Lệnh SĐ 3 BB cùng gần 1000 binh sĩ được “tự thoát” vì có 1 chiến hạm tình cờ nhìn thấy vào đón…
Đó là những người may mắn. Trên 90/100 quân số QĐI không “tự thoát” được, họ bị giết bởi đạn thù hay đạn bạn, bị chết đuối trên biển, họ tự tử tập thể bằng lựu đạn hay mìn Claymore, số còn lại bị VC bắt làm tù binh. Tướng Điềm Tư Lệnh SĐI BB trên đường “tự thoát” bị tử trận tại Chu Lai, 8000 trong số 12.000 TQLC đã không “tự thoát” được. Ngày 29/3/1975 trên bãi biển Non Nước là một địa ngục trần gian không khác gì cái “Pháp Trường Cát Thuận An” 3 ngày trước… Trong số 4000 TQLC đã “tự thoát” được thì ngoại trừ gần 2000 TQLC của Lữ Đoàn 468 may mắn được tầu HQ đón,còn đa số chỉ còn quần xà lỏn bơi ra tầu HQ cách bờ trên dưới 1 km, đây là con số cao nhất so với các đơn vị bạn tại QKI.
Ngày 29/3/1975 Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc Lữ Đoàn Trưởng LĐ 369 TQLC, Trung Tá Đỗ Hữu Tùng Lữ Đoàn Phó LĐ 369 TQLC và Bác Sĩ Cao Mạnh Thăng Đại Đội Trưởng Quân Y LĐ 369 là 3 người trong số 8000 TQLC được ghi nhận mất tích tại Đà Nẵng. Khi về đến Cam Ranh rồi Vũng Tầu và cho đến tận bây giờ vẫn không ai tìm thấy hay nghe tin tức gì về 3 người này…
 
Trên đây là những hy sinh của Quân Y TQLC, còn nhiều hy sinh khác mà tôi không biết đến nên không kể ra. Chúng tôi đã cùng anh em TQLC “12 tháng anh đi” tăng phái cho cả 4 vùng chiến thuật, đánh những trận ác liệt nhất với các đơn vị hàng đầu của địch, và rồi...cũng chết như những người khác!
Dù rằng đã bị bỏ rơi và tan hàng tại QKI ngày 29/3/1975, nhưng khi về đến Vũng Tầu chúng tôi đã tái tổ chức và tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất nước cho đến ngày 30/4/1975.

Tuy rằng phải chịu trăm cay ngàn đắng và tổn thương nhiều nhất so với  Quân Y các đơn vị bạn nhưng trong suốt chiều dài của cuộc chiến, các Bác Sĩ Quân Y TQLC không có ai đào ngũ trước hàng quân.
 
Viết cho ngày Đại Tang thứ 40 của Binh Chủng TQLC

MX Phạm Vũ Bằng.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Bảy 2011(Xem: 16341)
“Học vấn không phải là vấn đề không quan trọng trong cuộc sống vợ chồng, nhưng điều quan trọng nhất đối với Hòa, đó là tình yêu thương lẫn nhau; vì nếu không thật sự yêu thương, thì không thể vượt qua được những chướng ngại của cuộc sống
26 Tháng Bảy 2011(Xem: 15912)
Vậy mà hôm tao phải liệng súng đầu hàng vào cuối tháng tư 75, tao nghe đau điếng như vừa lãnh một viên đạn. Lần đó, tao không đánh giặc vậy mà tao lại bị thương, bị thương ở trong lòng.
17 Tháng Bảy 2011(Xem: 14410)
Anh đã trả gía cho cơn sốt tình ấy 10 ngàn đô la, qúa đắt so với “gía cả” bình thường của cô Nâu “đi” với những người đàn ông khác, và suýt nữa bằng cả sinh mạng của anh và vợ anh, cũng như tương lai của hai con sẽ ảnh hưởng không biết tai hại đến chừng nào.
03 Tháng Bảy 2011(Xem: 17050)
Ngoài song thân ra, người tôi biết ơn nhiều nhất là vợ tôi. Đời sống tôi có ý nghĩa hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn nhờ vợ khôn ngoan dịu dàng .Nhiều đêm thức giấc tôi nhẹ hôn lên mắt vợ,
29 Tháng Sáu 2011(Xem: 15239)
Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
19 Tháng Sáu 2011(Xem: 15735)
Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.
19 Tháng Sáu 2011(Xem: 14599)
Trước 1975, tác giả từng viết nhiều truyện ngắn trên bán nguyệt san Tuổi Hoa, và các truyện dài xuất bản bởi Tủ Sách Tuổi Hoa. Sau 30/4/1975, Cam Li không viết nữa, chỉ chuyên làm công việc nghiên cứu khoa học. Định cư tại San Jose từ 2003, sáu năm sau cô góp nhiều bài viết giá trị . Bài mới nhất của tác giả dành cho mùa lễ Father’s Day 2011.
09 Tháng Sáu 2011(Xem: 16017)
Và trong khi cô tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời qua ánh sáng chiếc màn ảnh điện thoại, bà cụ ngồi ở băng sau đã trở nên vô hình, và cô đã không thể trông thấy những giọt nước mắt của bà.
30 Tháng Năm 2011(Xem: 16361)
trên vách tường cũ vẫn treo tấm giấy khen “Anh hùng diệt Mỹ” đóng khung, lồng kính và đã bạc màu hoen ố theo thời gian của anh Siêu không còn nữa, mà thay thế vào là khung hình mới tinh, trên bức tường cũng mới tinh, hình gia đình cô Lạc, cô với người chồng Mỹ
28 Tháng Năm 2011(Xem: 17617)
Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt, mà quên dùng trái tim. Đúng như người vợ mù đã nói, "Con mắt của trái tim mới sáng nhất, thật nhất!"
24 Tháng Năm 2011(Xem: 14974)
nghiệp do chính con người tạo ra, bất định tính nên nghiệp có thể chuyển hóa được. Do đó, con người có thể thay đổi, chuyển hóa nghiệp báo của mình từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện hoặc ngược lại
23 Tháng Năm 2011(Xem: 16698)
ôi nhớ mỗi năm khi ngày "Mother's Day" đến, các ông thường kiếm cớ “em là vợ anh chứ có phải là má anh đâu mà anh phải mua quà."(Câu này tôi nghe quen quen quí vị ạ )
21 Tháng Năm 2011(Xem: 15091)
Làm sao mẹ tôi có thể sống thiếu tôi! Tôi là nguồn sống của bà mà! Tất cả sinh lực, ý chí phấn đấu trước kia là vì tương lai của tôi, là vì tôi! Không có tôi bên cạnh, không có đứa con trai thương yêu của bà bên cạnh
18 Tháng Năm 2011(Xem: 17297)
Mỗi ngày, trong nắng ấm, nhìn biển trời, nghe sóng biển rì rào, Lang da diết nhớ về Nha Trang, về những ngày tuổi thơ cùng với gia đình, thầy bạn, và hồi tưởng về một quá khứ với biết bao thăng trầm biến đổi của quê hương, của gia đình và của cả một đời người.
06 Tháng Năm 2011(Xem: 16679)
đằng sau sự tỏa sáng của một người đàn ông Việt Nam thường là cái bóng thầm lặng của một người phụ nữ.Mời quí độc giả nghe con gái của nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể lại cuộc đời thầm lặng của mẹ mình nhân ngày Mother Day…
04 Tháng Năm 2011(Xem: 16386)
Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.
01 Tháng Năm 2011(Xem: 15352)
Rải tro theo gió... trên đỉnh đèo Hải Vân... ý nguyện của người đã khuất gợi lên trong tôi hình ảnh vừa bi hùng lại vừa lãng mạn, như là sự kết hợp tuyệt vời giữa mối tình của viên dũng tướng với cô con gái đầu lòng của nhà văn Tự Lực Văn Đoàn.
27 Tháng Tư 2011(Xem: 16431)
Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc . Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc :« Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi ! »
23 Tháng Tư 2011(Xem: 15417)
Tôi ngồi đó để tưởng nhớ nước Việt Nam Cộng Hòa thân yêu của tôi. Tôi để hình tôi trên bàn thờ là coi như mình đã chết theo với nước Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Tôi chỉ sống lây lất, lo nhang khói cho đồng đội, cho cha mẹ, vợ con
03 Tháng Tư 2011(Xem: 16707)
Trong niềm bồi hồi xúc động đến rưng rưng lệ khi đọc, chắc chắn quý độc giả không thể không biết ơn những người lính VNCH, Mỹ, Úc... đã đổ máu bảo vệ Miền Nam trước làn sóng xâm lăng của cộng sản trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.... *
23 Tháng Ba 2011(Xem: 17296)
tưởng đã được giải quyết, phân tán người Việt Nam tỵ nạn trên nước Mỹ, nhưng không ngờ Xe đò Hoàng đơn thân độc mã mỗi ngày một chuyến kéo hai thành phố đông dân cư Việt Nam lại càng gần với nhau hơn nữa.
21 Tháng Hai 2011(Xem: 17326)
Già thì già, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc – hạnh phúc hơn một tỷ người khác – cho dù hạnh phúc đó vẫn được họ đếm từng ngày sau mỗi buổi sớm mai thức dậy…
10 Tháng Hai 2011(Xem: 15335)
Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ' Bầu bí một giàn'
04 Tháng Hai 2011(Xem: 17248)
Thế đó, họ bán, họ mua vừa như thật, vừa như “chơi” nhưng ai cũng hăm hở, náo nức. Dường như mỗi người đi chợ đang “bán”, đang “mua” cho mình một nỗi nhớ quê nhà vời vợi.
02 Tháng Hai 2011(Xem: 18287)
Hương thơm của gạo, vị ngọt của cơm lẩn với cát sạn tựa như cuộc đời của những quân nhân QLVNCH nói chung, SVSQTĐ nói riêng đã tự hào vào ngày mãn khóa sau mấy tháng quân trường mồ hôi thử thách đó là hương thơm của gạo. Để rồi chuẩn bị dấn thân vào cuộc đời đầy gian khổ hiểm nguy sống chết khó lường
28 Tháng Giêng 2011(Xem: 17887)
Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt.
21 Tháng Giêng 2011(Xem: 16706)
Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.
16 Tháng Giêng 2011(Xem: 17730)
Thành phố lên đèn, tôi vật vờ vô định thoáng nghe bên tai tiếng dương cầm giai điệu bản "Giao hưởng số chin, cung rê thứ" của L.V. Beethoven mà tôi học ngày nào. Hiện tại, tôi chơi nhạc đám ma. Cái chết - quy luật tất yếu giúp tôi sinh tồn, các giá trị nghệ thuật cao quý chỉ còn là hoài niệm!
02 Tháng Giêng 2011(Xem: 18158)
Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du ...
07 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 17820)
Trong cuộc chiến Việt Nam, những chàng pilot nổi tiếng hào hoa ở thành phố. Là thần tượng của các cô con gái đẹp. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng, những chàng trai trẻ ấy lại là những chiến sĩ rất hào hùng trên khắp các chiến trường. Bao phen xem cái chết tựa lông hồng.
05 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 19026)
Lâu nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa. Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt của Kim Cúc – suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng chuyện trò điều này với người trong nhà… – càng khiến dư luận nghĩ vậy.
02 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 17471)
Hầu hết bạn bè tôi, nếu còn sống sót sau cuộc chiến tang thương đó, kẻ đã phải ra đi trong loạn lạc, ly tan, người thì được ông bạn đồng minh phản bội năm xưa, can thiệp với kẻ cựu thù cho "ra đi trong vòng trật tự" sau nhiều năm bị đày đọa ngục tù, vợ con nheo nhóc, để giờ này mỗi người trôi dạt một phương, mang theo những vết thương không lành được ở trong lòng. Biết đến khi nào chúng tôi mới đuợc như những con chim trane đang tụ tập ca hót líu lo ngoài kia, trươc giờ bay xuống phương nam?
17 Tháng Mười Một 2010(Xem: 17931)
Một câu chuyện thật dí dỏm. Câu chuyện phần nào đã gợi nhớ đến một quảng đời thơ ấu thật êm đềm, hoa bướm ở vùng quê . Phải chi không có biến cố tháng tư 75, cuộc sống của những người dân miền nam hiền hòa chắc chắn là mãi mãi thanh bình, thịnh vượng, và an lành như tác giả "Lấy vợ miền quê" đã mô tả rất chân thật trong câu chuyện
11 Tháng Mười 2010(Xem: 16681)
Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú: “Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”
08 Tháng Mười 2010(Xem: 17448)
Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa...
08 Tháng Mười 2010(Xem: 18388)
Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi. Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút... Sống sao cho đáng sống mới là việc khó. Đời là vô thường!
07 Tháng Mười 2010(Xem: 22942)
Kính nguyện cầu Đấng Thiên Thựợng Đế tối cao và Hồn thiêng sông núi phù hộ cho toàn dân Việt sớm có ngày "đắc lộ thanh vân", đưa nước Việt lên đỉnh đài vinh quang thịnh trị ngàn đời.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 19222)
Chúng ta thường đi tìm một cái gì bên ngoài để mang lại cho mình hạnh phúc như vật chất, nhà cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi, … hoặc tình cảm gia đình, thân quyến, bạn bè, người yêu, … hoặc danh vọng, địa vị, lý tưởng. Ta khát khao tìm kiếm vì tưởng mình nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh. Trong kinh Pháp Hoa kể thí dụ đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin vì không biết trong túi mình có viên ngọc quý, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy ngọc ra xài liền hết đói khổ.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 16153)
Tháng 8-1999, tôi dọn nhà đến một căn phòng mới mướn. Trên ngăn kệ cao của closet, người mướn trước để sót lại một xấp “hồi ký” dầy 27 trang viết tay. Đêm đầu tiên ở phòng trọ mới, tôi đọc đoạn “hồi ký” bi hùng đó với nỗi niềm thương cảm không tả xiết: Thương cảm cho một danh tướng trong bước đường cùng của vận nước đen tối; thương cảm cho phu nhân và 2 người con của Tướng tuẫn tiết và thương cảm vị sĩ quan trẻ, có lẽ là Chánh Văn Phòng của vị tướng anh hùng, tức tác giả của đoạn “hồi ký” nầy.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 16632)
Lần nầy, bà Hoa quyết định tự tay đem hộp tro xương ông chồng về tận Việt Nam. Bà sợ thất lạc thêm lần nữa, thì tấm lòng hoài.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 19770)
Người chết lâu rồi , người còn ở lại Từ cuối chân mây đêm bấc lạnh lùng Ngày hiển thánh cả giống nòi mong mỏi Của những linh hồn hữu thủy hữu chung
06 Tháng Mười 2010(Xem: 16926)
Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!!
06 Tháng Mười 2010(Xem: 18455)
Cổ nhân cũng đã có câu “ngu si hưởng thái bình”, hay là ta cứ an phận thủ thường, con gái thì mong trời sinh ra đừng quá đẹp, con trai thì đừng có quá tài ba. Còn giàu có bạc muôn không ham, chỉ mong đừng chạy gạo từng ngày. Cứ làng nhàng là xong, không ai thèm muốn, đố kỵ, ganh ghét, nghĩ chuyện đời: “Giàu như người ta cơm ngày ba bữa, đói như mình đây cũng đỏ lửa ba lần.”
05 Tháng Mười 2010(Xem: 16776)
hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.